Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Người Việt ở Luang Prabang, Lào



Cố đô Luang Prabang là một thành phố không lớn, nhưng cũng có nhiều người Việt sinh sống. Dường như đã có người sang đây từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhưng bài viết sau chủ yếu nói về lớp người sang Lào và định cư ở đây khoảng những năm 1940.

Tiệm bách hóa Chí Thanh ở Luang Prabang
Thành phố Luang Prabang nằm trong tỉnh Luang Prabang mạn Bắc nước Lào, cách Việt Nam khoảng 450 kilômét. Nơi đây là điểm gặp nhau của sông Namkhan và sông Mekong, hội tụ rồi lan dọc theo cố đô chập chùng rừng núi  cổ kính và trầm lắng của Vương quốc Vạn Tượng xưa, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Lào.

Đến Luang Prabang sẽ thấy rất nhiều “khách Tây”, tức khách du lịch nước ngoài như người địa phương gọi. Cái lạ ở đây là bên các ngôi đền cổ xưa là những con phố với kiến trúc Tây phương, cùng một số đông người Lào nói tiếng Pháp còn sót lại...

Người Việt ở Lào từ những năm 1940

Từ giữa những năm 40 của thế kỷ trước, người Việt đã tới Luang Prabang rồi ở lại đây, từ tay trắng thế hệ thứ nhất và bây giờ là một cộng đồng người Lào gốc Việt thế hệ thứ ba và thứ tư,  căn cơ, hiền hòa, không hãnh tiến nhưng thường tự hào về sự hy sinh, gian khổ, hay làm của ông bà cha mẹ mình ngày trước:

Ông Chu Văn Phúc, tên Lào là Phúc Vilaysac bảo: “Quê ở Ninh Bình, bố mẹ sinh năm 1920 hay mười mấy gì đó, sang đây từ năm tám chín tuổi, lập gia đình và sinh đẻ con cái bên này. Mà không phải là sang cùng gia đình, kiểu như là tám chín tuổi được nhận làm con nuôi rồi sang bên Lào bằng cách đi bộ cả tháng, hai tháng trời mới tới Luang Prabang. Bắt đầu bố tôi là đi làm thuê làm mướn, sau này mới đi làm thợ điện. Đời trước phần nhiều là thợ may, thợ mộc, như bố tôi làm thợ điện, đến đời con cháu chúng tôi phần nhiều là buôn bán”.

Chúng tôi gặp cụ  Nguyễn Văn Vi, được coi như người của thế hệ thứ nhất, ra đời tại Xiêng Khoảng khi bố mẹ cụ sang đấy năm 1940:

“Quê gốc của tôi ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Bởi vì đói  khổ nên ra ngoài để kiếm ăn chứ không có mục đích gì khác.

Tôi đi năm 1940, năm 1945 thì trở về nước. Đi nửa chừng thì lúc bấy giờ Nhật đảo chánh Pháp, không cho qua cửa khẩu biên giới lúc bấy giờ gọi là Nong Hét quá Xiêng Khoảng giáp Nghệ An của Việt Nam. Không về được thế là ở lại Xiêng Khoảng”.

“Ở lại Xiêng Khoảng thêm một năm, gia đình quyết định dời lên Luang Prabang - cụ Vi kể tiếp - Chạy vào Luang Prabang năm 1946 thì Pháp trở lại Lào, lúc đó chúng tôi lên kế hoạch là sẽ qua sông tìm đường sang Thái Lan. Nhưng nửa đường vì ông cụ tôi già yếu, đói khát không có thuốc men, ông mất giữa chừng.  Thế là bà cụ  lôi chúng tôi trở lại Luang Prabang, tức là từ 1946 đến nay tôi vẫn ở đây”.

Cuộc sống của những người Việt Nam bỏ xứ sang Lào như gia đình cụ Nguyễn Văn Vi thời đó như thế nào: “Lúc bấy giờ làm ăn kinh tế khó khăn, mình phải làm đủ mọi nghề, từ đi kiếm củi, đi gánh cát, gánh sỏi ở bờ sông lên bán cho những người có tiền muốn xây nhà, rồi đi gánh nước thuê, tức là làm những việc gì mà kiếm đồng tiền để nuôi con là các cụ làm thôi.

Con cái của những người đầu tiên sang Lào khi ấy đều thất học hết, cụ Vi cho biết: Khi Pháp quay lại năm 1946 thì bấy giờ cha mẹ không có tiền cho con ăn học, về sau bà con đông rồi đòi hỏi người Pháp cho mở một trường Việt Nam đến bây giờ vẫn còn đấy, trường Việt kiều, trường Hùng Vương ấy, chỉ cho dạy từ lớp Năm đến lớp Ba, chỉ ba năm thôi. Rồi Pháp bảo lớp Nhì nhỏ, Nhì lớn thì phải vào trường công của Pháp. Nhưng mà số có học thức cao thì sau năm 1954 họ cũng đi ra nước ngoài nhiều”.
Đó là thế hệ thứ nhất của những người Việt đi bộ từ miền Bắc sang Lào, tấp vào Xiêng Khoảng, Paksé, Vientiane và Luang Prabang...

Các thế hệ người Việt thứ 3 thứ 4 ở Lào

Hơn nửa thế kỷ qua, bao nhiêu vật đổi sao dời, cuộc sống của thế hệ thứ ba và thứ tư của người Việt ở Lào không còn vất vả buôn gánh bán bưng, làm thuê làm mướn như trước. Bây giờ, đi trên những con đường chính của Luang Prabang, dạo trong những khu chợ Luang Prabang, người Việt ở đây có những cửa hàng khang trang và buôn bán tấp nập, điển hình như tiệm Mini Mart Chí Thanh của ông Nguyễn Văn Vi do các con đứng bán,  tiệm Tiến Thành do em ruột ông làm chủ, và một cửa tiệm bách hóa lớn của một người Việt khác, đều nằm trên một con đường sầm uất của trung tâm Luang Prabang. Chúng tôi trò chuyện với hai người con ông Vi, chị Phú Lan và chị Thanh Thùy.

Chị Thùy có dịch vụ cho khách du lịch nước ngoài thuê xe gắn máy di chuyển trong Luang Prabang. Hai con chị, thế hệ thứ tư, con trai du học ở Australia, con gái học Đại học Kinh tế Quốc gia ở Hà Nội.

Sau 1975, nhiều người Lào gốc Việt tìm đường qua Pháp, Mỹ, Anh hay Australia. Gia đình ông Vi không di tản vì thấy cuộc sống ở Luang Prabang không đến nỗi nào. Chị kể: “Ở Luang Prabang người Việt mình có nhiều tiệm như vầy lắm. Tiệm của mình có bán cả xe, đồ điện, đồ tạp hoá, rượu, bơ sữa đủ hết. Đồ xây dựng cũng là mấy tiệm lớn có tiếng. Người Việt mình đứng hàng đầu lĩnh vực kinh doanh ở Luang Prabang”. Còn chị Thanh Thùy bảo: “Phần nhiều người Lào chỉ cần đủ sống thì thôi. Người Việt mình chịu khó hơn, tằn tiện được”.

Luang Prabang chỉ có hai tiệm vàng, nằm trên đường Sisouphanh. Tiệm Nàng Quí và tiệm Vàng Sàigòn đều do người Việt làm chủ. Một trong hai chủ nhân đó, ông Phạm Văn Tỵ, kể rằng tiệm vàng này hình thành từ bao công lao cực nhọc: Bố tôi qua đây từ thời chiến tranh thứ hai, năm 1945, giờ ông đã qua đời. Ngày mới sang ông rất khổ, tay trắng. Đi học thợ may phần lớn là bế con cho ông thầy, tắm rửa cho con cái họ, mãi ba năm sau mới được may rồi làm thợ may cho đến lúc mất.

Sau 1975 mình phải làm nhiều việc lên, đổi sang làm giá đậu, làm bánh phở, làm giò, làm nem. Sau khi có ít vốn mình quay sang buôn bán vàng bạc”.

Luang Prabang có bao nhiêu người Lào gốc Việt như thế này? Có gần  sáu trăm người cả già lẫn trẻ từ đời ông bà, cha mẹ đến đời con và đời cháu, nghĩa là thuộc bốn thế hệ tính đến lúc này.

Theo ông Chu Văn Phúc, chủ nhân tiệm bán đồ cổ trên đường Sisouphanh, đây là những người có tên trong Hội Người Việt Luang Prabang mà ông là phó Ban chấp hành: “Từ xưa giờ vẫn có Hội Người Việt Nam ở Luang Prabang, khoảng trên năm trăm cả trẻ em người lớn. Tổ chức để coi nhau thôi, ngày tư ngày Tết hay gì đó thì gặp nhau, giúp đỡ nhau lúc tối lửa tắt đèn. Bây giờ đỡ vì có Tổng Lãnh sự (Việt Nam) ở đây, có chuyện gì Tổng Lãnh sự muốn cho biết thì mình cũng lại họp, chuyện vui chuyện buồn gì đó, ngày tư ngày Tết Tổng Lãnh sự tổ chức là mình đi theo để gặp nhau”.

Cuộc sống của người Việt ở Luang Prabang êm ả so với thủ đô Vientiane vốn đã bình lặng như tâm tính của người dân Lào. Luang Prabang có khí hậu mát mẻ hơn Vientiane, màu nước sông Mekong lượn lờ dọc cố đô Vạn Tượng trong trẻo hơn so với dòng chảy cuồn cuộn đục ngầu phù sa của dòng Cửu Long bên nhà.

Ở Luang Prabang có đại học Souphanouvong, nơi con cái những người Việt gốc Lào có thể ghi danh đi học mà không  phải về Vientiane. Bên cạnh đó, nhiều gia đình có điều kiện đã gởi con di du học tại Pháp, Mỹ, Anh hoặc Australia.

Cũng là một người trong Ban chấp hành Hội Người Việt Nam ở Luang Prabang, ông Lê Văn Khuê, chủ một tiệm bán vật liệu xây dựng lớn trong thành phố cho biết, những người Việt từ trong nước sang Luang Prabang sau này có phần nhiều hơn những người đi trước: Tỉ lệ người sang đây nhiều hơn người bên này, phần nhiều là hợp pháp, không phải xuất khẩu lao động mà tự di. Họ là thợ hồ, thợ nề, thợ mộc trong các công ty xây dựng của người Việt, cũng là những người qua sau này, đấu thầu xây dựng trên đất Lào. Những công nhân đó, phần lớn xuất phát từ các tỉnh miền Trung,  không có chân trong Hội Người Việt Nam ở Luang Prabang và cũng không có ý định ở lại nước Lào về lâu về dài. Họ sang đây lao động với mục đích kiếm tiền gởi về cho gia đình bên nhà để cải thiện cuộc sống”.

Ông  Chu Văn Phúc, đã có năm người cháu thuộc thế hệ thứ tư, tâm sự rằng người Lào gốc Việt ở Luang Prabang có cái thiếu nhưng cũng có cái để hy vọng: “Năm đứa cháu thì đứa nhất, đứa nhì còn nói tiếng Việt nhiều, đứa ba, đứa tư, đứa năm nói sang tiếng Lào nhiều. Trường học Việt Nam mỗi tuần mở ra một tiếng hai tiếng nên bọn nó không được học nhiều. Ra ngoài trung học là nó không còn được học tiếng Việt Nam rồi, nếu bố mẹ siêng nói chuyện ở nhà thì nó biết, vậy thôi. Mà đời thứ tư sẽ khá hơn chúng tôi nhiều, con tôi nó được học hơn tại vì nó vào dân Lào, sẽ học sẽ đi tiếp này kia nó sẽ khá hơn”.

Còn cụ ông Nguyễn Văn Vi thì  nói ông sẽ chết ở đây vì đã gắn bó với mảnh đất này: Sống đâu quen đấy rồi, mình bỏ nước ra đi quá lâu, vì cơm áo mà đi nhưng sang đây đất lành chim đậu, dân tộc Lào tốt, hiền hoà, làm ăn cũng thật thà. Tôi thấy cảnh ở đây hợp với mình, sống quen rồi. 


ST


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.